Lê Quý Đôn là một nhà bác học làm quan. Tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt cả cuộc đời và sự nghiệp của ông quan bác học này là niềm tự hào, tự tôn dân tộc luôn luôn mãnh liệt.
.jpg)
Giáo viên, học sinh trong giờ học ngoại khóa tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn.
Năm 1760, Lê Quý Đôn được cử làm Phó sứ trong đoàn sứ bộ của nước ta sang nhà Thanh. Dưới thời phong kiến, đi sứ phương Bắc thường được coi là sự thử thách về nỗi gian truân, hiểm nguy trên đường đi về, nhất là việc hành xử thế nào để giữ được quốc thể, nhưng với Lê Quý Đôn đi sứ là một cơ may để bộc lộ tài năng bang giao, để “lấy văn chương để tăng thế nước” như ông đã viết trong thơ đi sứ. Trong hành trang đi sứ, Lê Quý Đôn đã mang những cuốn sách của mình như Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục cho các danh sĩ Trung Hoa cùng sứ thần Triều Tiên đọc và viết lời tựa, lại mang theo cả cuốn Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương soạn vào thế kỷ XV là tập sưu tập thơ văn từ thời Lý - Trần để làm minh chứng cho họ hiểu đúng về nền văn hiến Đại Việt. Khi đàm đạo với các viên quan có đấng bậc của nhà Thanh, Lê Quý Đôn luôn tận dụng mọi cơ hội để dẫn sách Trung Quốc viết về nước ta và biện bác về những tình tiết viết đúng, viết sai để bảo vệ, khẳng định nền văn hiến của dân tộc. Khi thấy công văn giao dịch của phía nhà Thanh dùng từ “di quan” để chỉ đoàn sứ bộ, ông đã quyết liệt phản đối buộc họ phải đổi cách xưng hô với sứ thần nước ta là An Nam cống sứ...
Tư tưởng chủ đạo trong toàn bộ sự nghiệp trước tác của Lê Quý Đôn là sự khẳng định và đề cao đất nước, con người Việt Nam, đề cao nền văn hóa, văn hiến của dân tộc. Ở Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn luôn coi trọng việc liên hệ thực tế Việt Nam trên tinh thần dân tộc đáng quý. Ở Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn đã chú ý nhắc đi nhắc lại những sự kiện lịch sử vẻ vang thời Lý - Trần. Ở Quần thư khảo biện bàn về triết học, nhưng Lê Quý Đôn vẫn nhắc đến việc nhà Tống phải học cách tổ chức quân đội của Đại Việt. Phần Vựng điển sách Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn đã dẫn sách Cô thụ biều đàm của Trung Quốc nói về việc Minh Thành Tổ nhà Minh học cách chế súng của Hồ Quý Ly, lại dẫn sách Thù vực chu tư lục (Trung Quốc) chép về việc nhà Minh học cách chế súng của Hồ Nguyên Trừng...
Trong hầu hết các bài tựa sách của mình, Lê Quý Đôn đều khẳng định nước ta không thua kém gì Trung Quốc. Ví như: “Tiên triều dựng nước, (Lê) Thái Tổ là bậc thần võ mở mang cơ nghiệp, Thái Tông là bậc anh minh nối giữ cơ đồ, Thuần Hoàng (Lê Thánh Tông) thì tài lược khác thường, đổi mới mọi việc. Hiến Miếu (Lê Hiến Tông) thì kính trời khoan hậu, theo giữ nếp xưa, luận định bố cáo rất nhiều, văn vật điển chương rất đẹp, không kém gì Trung Quốc” (tựa Đại Việt thông sử). Hoặc: “Nước Nam nổi tiếng là một nước văn hiến, từ hai triều nhà Lý, nhà Trần đến bản triều (triều nhà Hậu Lê), các bậc tiền bối trử tác cũng nhiều” (tựa Kiến văn tiểu lục). Hoặc: “Nước ta mở mang văn minh, vốn không thua kém Trung Quốc” (Thể lệ biên soạn Toàn Việt thi lục)...
Tự hào về bề dày truyền thống văn chương của Đại Việt, đồng thời Lê Quý Đôn hằng xót xa vì sách vở, văn chương của dân tộc từ thời Lý, thời Trần đã bị hư hao, thất tán quá nhiều. Ông đã viết trong Kiến văn tiểu lục: “Nước ta, hai triều Lý - Trần (1010 - 1412) ngang vào khoảng triều nhà Tống, nhà Nguyên (963 - 1367) ở Trung Quốc. (Lúc ấy) phong khí thuận hòa, tinh anh nhân tài khí cách văn chương không khác gì Trung Quốc, nhưng sách vở ghi chép sơ lược, thiếu sót không tường tận, tôi thu nhặt những văn còn sót lại ở đồ đồng và bia đá được mấy chục bài, thì thấy văn thời Lý lối biền ngẫu bóng bẩy đẹp đẽ còn giống thể văn nhà Đường, đến thời Trần thì lưu loát chỉnh tề, đã giống khẩu khí người nhà Tống”.
Chính vì giàu lòng tự hào, tự tôn dân tộc và ý thức được nguồn thư tịch nước nhà từ trước đến thời mình bị thất lạc nhiều nên việc sưu tập tư liệu, thư tịch, thơ văn luôn là mối quan tâm tha thiết của Lê Quý Đôn trong mọi hoàn cảnh. Toàn Việt thi lục gồm các bài thơ của tác giả được sưu tầm tuyển chọn từ thời Lý đến thời Lê Tương Dực là một bộ thi tuyển lớn nhất Việt Nam thời phong kiến.
Về sự nghiệp sáng tác thơ văn, Lê Quý Đôn cũng luôn bộc lộ lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Các bài thơ trong Quế Đường thi tập bao gồm nhiều chủ đề, nhưng có lẽ nổi bật là hai mảng chủ đề lớn là thơ viết về non sông tươi đẹp, anh hùng và thơ đi sứ.
Thơ của Lê Quý Đôn thiên về tả cảnh, mà tình ngụ ư cảnh. Lê Quý Đôn đã gửi gắm mối tình nồng thắm, đôn hậu của mình vào những danh lam thắng cảnh của đất nước. Động Bích Đào, núi Dục Thúy, sông Dũng Liệt, chùa Hương Hải, cảng Phúc Thành, sông Xương Giang, thành Cổ Lộng... mỗi trái núi, con sông đều được Lê Quý Đôn nhắc đến trong thơ với tấm lòng tràn đầy tình cảm tự hào.
Tự hào về sông núi Việt Nam, Lê Quý Đôn đặc biệt trân trọng những con sông, trái núi trên nó mang di tích lịch sử. Ông nhiệt thành ca ngợi những tên núi, tên sông gắn liền với tên những chiến công chống xâm lăng của dân tộc. Đó là những bài: Thành Cổ Lộng thành, Bến Xương Giang, Qua sông Như Nguyệt...
Trong lịch sử bang giao, đa phần các nho sĩ nước ta đi sứ đều để lại một hoặc vài thi tập. Ngoài đề vịnh, xướng họa ở đất Bắc là chủ đề nhớ nhà, nhớ non sông đất nước... Với Lê Quý Đôn, khi làm thơ xướng họa với các bậc danh sĩ nhà Thanh và Triều Tiên thường tận dụng mọi cơ hội để khẳng định nền văn hóa độc lập của Đại Việt và thực hiện chủ trương lấy văn chương tăng quốc thể.
Nguồn: baohungyen.vn