TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Đưa Nghị quyết Đại hội Đảng vào cuộc sống
Đăng ngày: 03/05/2026 - Lượt xem: 113
Cam kết chi tối thiểu 2% ngân sách - đòn bẩy để văn hóa bứt phá

Việc lần đầu tiên có một nghị quyết đặt ngưỡng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa đã cho thấy sự quan tâm đặc biệt đối với lĩnh vực này, bảo đảm văn hóa phát triển ngang hàng với kinh tế.

Âm thanh cồng chiêng vang vọng từ căn nhà dài truyền thống của người Ê Đê. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đưa ra một tư duy mới về đầu tư cho văn hóa với nhiều điểm đột phá, trong đó nổi bật là tiêu chí định lượng: bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho lĩnh vực này.

Đây là quyết sách quan trọng nhằm đưa văn hóa trở thành động lực của phát triển bền vững.

Bước tiến chính sách

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng phát triển văn hóa và con người Việt Nam, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới.

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, tư duy và nhận thức về vai trò của văn hóa tiếp tục có những bước phát triển mới. Nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa được tăng cường.

Tuy nhiên, theo Nghị quyết 80, đầu tư cho văn hóa còn thấp và dàn trải; nguồn lực chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. Cơ chế, chính sách chưa phát huy đầy đủ sức sáng tạo của các chủ thể, đặc biệt là đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ.

Yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đòi hỏi những chủ trương, quyết sách đột phá mang tính chiến lược, đồng bộ nhằm khắc phục hạn chế, bất cập; chủ động nắm bắt thời cơ, vượt lên thách thức thúc đẩy phát triển văn hóa.

Múa Lục cúng hoa đăng tượng trưng cho sáu lễ vật dâng cúng Phật (hương, hoa, đèn, trà, quả, oản) trong Nhã nhạc Cung đình Huế. (Ảnh: Nhật Anh/TTXVN)

Nghị quyết 80 nêu rõ đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc. Đổi mới căn bản, toàn diện tư duy về huy động mọi nguồn lực để phát triển văn hóa, trong đó nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt.

Trong số các chỉ tiêu đặt ra, có một chỉ tiêu quan trọng là bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn.

Như vậy, Nhà nước không chỉ bảo đảm nguồn lực mà còn đóng vai trò “dẫn dắt hệ sinh thái đầu tư văn hóa.”

Việc lần đầu tiên có một nghị quyết đặt ngưỡng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa đã cho thấy sự quan tâm đặc biệt đối với lĩnh vực này, một bước chuyển từ “khuyến khích tăng đầu tư” sang cam kết tài chính cụ thể, có tính ràng buộc, bảo đảm văn hóa phát triển ngang hàng với kinh tế.

Nghị quyết yêu cầu tăng đầu tư công cho văn hóa theo hướng có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên lĩnh vực văn hóa cơ sở, di sản văn hóa, đổi mới sáng tạo, đào tạo, công nghiệp văn hóa, nhất là công nghệ số trong phát triển công nghiệp văn hóa.

Tập trung đầu tư, hoàn thiện hạ tầng văn hóa, ưu tiên các thiết chế văn hóa quy mô quốc gia ngang tầm khu vực và quốc tế, như Bảo tàng Quốc gia, nhà hát Quốc gia, trung tâm nghệ thuật quốc gia...; xây dựng, hoàn thiện, bảo đảm vận hành, khai thác đồng bộ có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở, tạo hệ thống dịch vụ văn hóa công hiện đại, phù hợp đặc thù vùng, miền, dân tộc.

Mới đây, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam; trong đó quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển để thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ; khuyến khích huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa.

Theo Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh, Nghị quyết đã góp phần thể chế hóa ba vấn đề đột phá của Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị là: thể chế cơ chế chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực phát triển văn hóa đóng vai trò then chốt; chú trọng phát hiện, ươm mầm tài năng, thu hút trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; nhấn mạnh việc tăng cường đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số để tạo không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa.

Bài toán hiệu quả đầu tư

Nhìn về quy định này, đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình Trần Văn Khải cho rằng, xác định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước là rất đúng, nhưng chưa đủ.

Vấn đề không chỉ là 2%, mà nó được cơ cấu ra sao, bao nhiêu cho thiết chế cơ sở, bao nhiêu cho bảo tồn di sản, bao nhiêu cho chuyển đổi số, an toàn, an ninh văn hóa số, đào tạo nhân lực số của ngành văn hóa… Nếu không làm rõ, chúng ta có thể đạt chỉ tiêu về tổng lượng chi nhưng không đạt được mục tiêu chiến lược về hiệu quả chi.

Các giá hầu đồng có nội dung ca ngợi thần linh, Thánh Mẫu và các anh hùng có công với dân tộc. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, việc đề xuất bảo đảm chi tối thiểu 2% ngân sách nhà nước cho văn hóa là một bước tiến rất lớn về tư duy chính sách; cho thấy văn hóa đang dần được nhìn nhận đúng hơn trong cấu trúc phát triển quốc gia.

Song ông cũng cho rằng không phải có thêm tiền là tự động có thêm hiệu quả. Điều quyết định vẫn là chúng ta dùng nguồn lực đó theo tư duy nào, ưu tiên nào và với cơ chế giám sát nào. Nếu phân bổ theo lối bình quân, manh mún, dàn trải, nơi nào cũng có một ít nhưng không nơi nào đủ để tạo đột phá, thì 2% vẫn có thể trôi đi mà không để lại dấu ấn đáng kể.

Chính vì vậy, cùng với tăng tỷ lệ chi, cần đặt ra một yêu cầu rất nghiêm túc về quản trị đầu tư văn hóa theo kết quả đầu ra.

Nêu ba hướng ưu tiên phải được xác định rõ, ông Sơn phân tích, thứ nhất là đầu tư cho con người, tức là đầu tư cho đội ngũ sáng tạo, nghệ sỹ, nghệ nhân, cán bộ văn hóa cơ sở, nhà quản lý văn hóa, đội ngũ làm công nghiệp văn hóa và lực lượng trẻ có tiềm năng sáng tạo. Không có con người thì mọi thiết chế đều có thể rơi vào tình trạng “có vỏ mà thiếu hồn.”

Thứ hai là đầu tư cho hạ tầng văn hóa thiết yếu, đặc biệt ở cơ sở và trong môi trường số: thư viện, bảo tàng, nhà hát, trung tâm văn hóa, không gian sáng tạo, hạ tầng dữ liệu, số hóa di sản, nền tảng quảng bá và phân phối sản phẩm văn hóa.

Thứ ba là đầu tư cho các chương trình mang tính đòn bẩy, chẳng hạn bảo tồn di sản có nguy cơ mai một, đặt hàng tác phẩm lớn, hỗ trợ ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm, phát triển thị trường văn hóa và quảng bá thương hiệu văn hóa quốc gia.

“Nếu 2% được dồn vào những lĩnh vực có tính lan tỏa này, thì hiệu quả sẽ rất khác so với cách chia đều theo cơ học,” vị Phó Giáo sư, Tiến sỹ nói.

Bên cạnh đó, ông cho rằng phải thay đổi cách đánh giá hiệu quả đầu tư cho văn hóa. Không thể chỉ nhìn theo số công trình xây xong hay số kinh phí đã giải ngân. “Hiệu quả của đầu tư văn hóa phải được nhìn ở mức người dân được hưởng gì, trẻ em được tiếp cận gì, cộng đồng được gắn kết ra sao, sản phẩm văn hóa có đi vào thị trường không, di sản có được bảo vệ tốt hơn không, môi trường văn hóa có lành mạnh hơn không, hình ảnh quốc gia có được nâng lên không.”

Nói cách khác, theo ông Sơn, 2% ngân sách cho văn hóa không nên chỉ là một khoản chi, mà phải là “một khoản đầu tư chiến lược cho sức mạnh mềm, cho chất lượng con người và cho năng lực phát triển bền vững của đất nước.”

Muốn vậy, cần công khai tiêu chí, phân cấp rõ trách nhiệm, tăng giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân, đồng thời coi ngân sách nhà nước là vốn mồi để kéo thêm nguồn lực xã hội. Chỉ khi đồng tiền ngân sách được đặt trong một triết lý quản trị hiện đại như vậy, 2% mới thật sự trở thành bước tiến lớn, chứ không chỉ là một con số đẹp trong văn bản./.

(TTXVN/Vietnam+)

Tin liên quan