TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Đăng ngày: 27/08/2026 - Lượt xem: 36
Không thể phủ nhận giá trị, ý nghĩa thời đại của Tuyên ngôn Độc lập

TS NGUYỄN THỊ MAI CHI Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình là văn kiện lập quốc của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và mang giá trị thời đại sâu sắc. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn ra sức xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa lịch sử và giá trị của Tuyên ngôn Độc lập nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Do vậy, việc nhận diện, phản bác các luận điệu xuyên tạc trên có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân vào con đường phát triển đất nước. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình _Ảnh: Tư liệu

Nhận diện những luận điệu phủ nhận giá trị thời đại của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 

Cách đây hơn 80 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với thế giới khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ đầu tiên của Đông Nam Á. Thắng lợi ấy “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(1).

Sự kiện đó không chỉ mở ra kỷ nguyên mới trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc lần đầu tiên giành thắng lợi ở một nước thuộc địa, mở đầu thời kỳ sụp đổ và tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ, có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

Hơn tám thập niên qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã làm nên những kỳ tích qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước, bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân vui mừng, tự hào về những thành quả đạt được, nhiều thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc, chống phá, tung ra những thông tin sai lệch về sự kiện trọng đại trên. 

Những luận cứ đấu tranh phản bác lại những luận điệu phủ nhận giá trị thời đại của Tuyên ngôn Độc lập

Thứ nhất, một số luận điệu xuyên tạc nội dung của Tuyên ngôn Độc lập là “sao chép phương Tây”.

Đó là luận điệu xuyên tạc về lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới.

Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 chỉ gồm hơn 1.000 từ, được viết trong thời gian rất ngắn, giữa bối cảnh bộn bề công việc của chính quyền cách mạng lâm thời mới được xác lập. Đặc biệt, từng lập luận trong Tuyên ngôn Độc lập là kết tinh trí tuệ, tầm vóc, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ “bao năm bôn ba khắp thế giới, mang án tử hình của đế quốc Pháp, qua mấy chục nhà tù và những ngày dài gối đất nằm sương”(2). Văn kiện đã khẳng định quyền độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam là bất di bất dịch, nhưng điểm mới là tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến, xác lập nền dân chủ cộng hòa, tạo nền tảng để dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ kết tinh khí phách độc lập, tự chủ và truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đặt nền độc lập, tự do của dân tộc và các quyền cơ bản của nhân dân trên cơ sở pháp lý và chính nghĩa của thời đại. Người đã nghiên cứu những thành quả dân chủ mà nhân loại đạt được, từ đó đặt cuộc đấu tranh của Việt Nam vào dòng chảy tiến bộ của nhân loại. Chính vì vậy, từ những dòng đầu, Người đã trân trọng trích dẫn những tư tưởng về quyền con người trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(3).  Tiếp đó, Người trích dẫn quyền tự do, bình đẳng của công dân trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp năm 1791.

Từ quyền cá nhân của con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên thành quyền của các dân tộc:“Lời bất hủ ấy ở Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(4). Như vậy, chỉ với cụm từ “suy rộng ra”, bản Tuyên ngôn Độc lập khẳng định những quyền thiêng liêng, không thể xâm phạm của mọi dân tộc đã được chính các quốc gia phương Tây công nhận bằng tuyên ngôn chính thức. Đây chính là tuyên bố về quyền dân tộc tự quyết, một nguyên lý cốt lõi của phong trào giải phóng dân tộc và cũng là cơ sở lý luận quan trọng cho sự hình thành của một quốc gia độc lập.

Giá trị thời đại của Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền dân tộc tự quyết của Việt Nam, là sự mở đầu cho quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Những tư tưởng thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, là sự kế thừa tư tưởng của các cuộc cách mạng tiến bộ của nhân loại…

Như vậy, Tuyên ngôn Độc lập không phải là “sự sao chép” hay là sự “thêm thắt”, không phải là sự “du nhập” từ các bản tuyên ngôn của nước ngoài, mà là sự kết hợp giữa tinh hoa văn hóa của nhân loại với truyền thống lịch sử, chính trị của dân tộc, đưa một tuyên bố chính trị thành một văn bản pháp lý không chỉ có giá trị quốc gia, dân tộc mà còn có mang tính phổ quát quốc tế.

Thứ hai, các thế lực thù địch xuyên tạc Tuyên ngôn Độc lập chỉ là “tuyên bố hình thức” hoặc “không bảo đảm quyền lợi cho nhân dân” (?!).  

Sự thật là, với lý lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục và cách lập luận hùng hồn, bản Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là tuyên bố chủ quyền, mà còn là một bản cáo trạng mạnh mẽ vạch trần bản chất “tự do, bình đẳng, bác ái” của thực dân Pháp thường rêu rao ở các nước thuộc địa: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”(5). 

Với những bằng chứng cụ thể dưới ách cai trị của thực dân, Tuyên ngôn Độc lập đã vạch trần bản chất bóc lột một cách tàn nhẫn về kinh tế, ngu dân về văn hóa, tước đoạt mọi quyền dân chủ của nhân dân thuộc địa, đặc biệt: “Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước, thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”(6). Điều đó không chỉ có giá trị đối với việc thức tỉnh nhân dân Việt Nam đứng dậy dể bảo vệ nền độc lập dân tộc, mà chính sự tố cáo tội ác, vạch trần bản chất của chủ nghĩa thực dân Pháp, qua đó truyền cảm hứng mạnh mẽ cho các dân tộc đang bị áp bức, bóc lột đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX.  

Từ việc lên án chủ nghĩa thực dân, Tuyên ngôn Độc Lập đã góp phần đặt nền tảng cho một trật tự pháp lý quốc tế mới trong thế kỷ XX.

Người dân nô nức đón Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành chào mừng 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2.9 _Ảnh: vietnamnet.vn

Nguyễn Ái Quốc là người chiến sĩ tiên phong lên án chủ nghĩa thực dân và cũng là người tuyên án chôn vùi chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam, mở đầu cho thời kỳ sụp đổ của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ trên thế giới. Tiến sĩ Ahmed, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương nhận xét: “Chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại khi còn sống và rõ ràng cụ Hồ Chí Minh là một trong số đó; Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”(7).  

Giá trị thời đại của Tuyên ngôn Độc lập tiếp tục được khẳng định trong sự phát triển của luật pháp quốc tế. Mười lăm năm sau khi Tuyên ngôn Độc lập ra đời, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Tuyên bố về việc trao trả độc lập cho các nước và dân tộc thuộc địa năm 1960; tiếp đó, năm 1970, thông qua Tuyên bố về các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, khẳng định việc chấm dứt chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức. Những văn kiện này đã khẳng định tính đúng đắn và ý nghĩa phổ quát của tư tưởng: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập.

Qua đó, Việt Nam trở thành một trong những dân tộc tiên phong trong phong trào cách mạng đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam nằm trong những nguồn cảm hứng chủ yếu của một đường lối đấu tranh lớn khác sau chiến tranh, đó là quá trình phi thực dân hóa(8).

Với Tuyên ngôn Độc lập, Việt Nam lần đầu tiên có tuyên ngôn xác lập cơ sở cho tính hợp pháp, chính danh của Nhà nước cách mạng, từ đây, nhân dân Việt Nam thực sự có quyền làm chủ, dân tộc Việt Nam bước lên vũ đài quốc tế, góp phần quan trọng trong mục tiêu hòa bình, độc lập và phát triển của nhân loại.

Tuyên ngôn Độc lập nêu rõ, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố “thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam(9). Không chỉ tuyên bố “xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền” của thực dân Pháp trên đất nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố về tính hợp pháp, chính danh của Nhà nước cách mạng Việt Nam và ghi nhận, thực thi các giá trị dân chủ một cách thực chất - đó chính là Hiến pháp. 

Do vậy, Tuyên ngôn Độc lập là nền tảng tạo lập cơ sở pháp lý dẫn tới việc triệu tập Quốc hội khóa I (tháng 1-1946), ban hành Hiến pháp năm 1946 với tinh thần pháp quyền tiến bộ. Sự ra đời của Nhà nước cách mạng Việt Nam và bản Hiến pháp năm 1946 với đầy đủ các yếu tố của một quốc gia độc lập theo công pháp quốc tế đã khẳng định sự hiện diện chính thức của một chủ thể pháp lý mới trên trường quốc tế, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cho đến nay, bản Hiến pháp năm 1946 vẫn giữ nguyên giá trị về nhiều phương diện, trong đó không chỉ các quyền công dân trên tất cả các lĩnh vực được quy định, quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của người Việt Nam được ghi nhận, mà còn nhiều quyền con người, kể cả quyền của người nước ngoài sống ở Việt Nam cũng được Nhà nước bảo hộ. 

Hiến pháp năm 1946 đã tạo cơ sở pháp lý đầu tiên cho Việt Nam hiện thực hóa quyền tự do, độc lập dân tộc, quyền dân chủ, hạnh phúc nhân dân và được tiếp tục kế thừa, phát triển ở các bản Hiến pháp tiếp theo, trong đó có Hiến pháp năm 2013. 

Đó chính là cơ sở củng cố niềm tin, tạo ra động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, là nền tảng để Việt Nam vững vàng bước vào kỷ nguyên đổi mới và phát triển. 

Thứ ba, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà dân tộc Việt Nam đạt được trong hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là minh chứng khẳng định giá trị bền vững của Tuyên ngôn Độc lập, bác bỏ luận điệu xuyên tạc Tuyên ngôn Độc lập đã “lỗi thời”, “không còn giá trị thực tiễn”. 

Thực hiện lời thề trong Tuyên ngôn Độc lập “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lâp”, toàn thể dân tộc Việt Nam đã một lòng đi theo con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, qua 40 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới vào thực tiễn đất nước, hoạch định đường lối đổi mới với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thể chế nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao, hội nhập quốc tế sâu rộng, cải thiện rõ rệt đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

Việc giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia đã tạo nền tảng để Việt Nam không ngừng nâng cao vị thế, uy tín và tiếng nói trên trường quốc tế. Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế, đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới. Đến tháng 1-2026, Việt Nam có 15 đối tác chiến lược toàn diện. Việt Nam cũng là thành viên tích cực, có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng. Điều đó tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 19-5-2026, của Bộ Chính trị về “Triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng”, yêu cầu xây dựng nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại; đối ngoại được đặt ở vị trí cao hơn, cùng với quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, với yêu cầu trở thành lực lượng tiên phong kiến tạo không gian phát triển mới, mở rộng dư địa chiến lược, phát huy tối đa các nguồn lực bên ngoài để làm giàu nội lực đất nước và nâng tầm vị thế quốc gia.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước, đặc biệt sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, là minh chứng sinh động khẳng định giá trị thời đại bền vững của Tuyên ngôn Độc lập. Hơn tám thập niên đã trôi qua, những tư tưởng lớn của Tuyên ngôn Độc lập vẫn giữ nguyên giá trị, soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới./.

------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.7, tr. 25
(2) Võ Nguyên Giáp: Những năm tháng không thể nào quên, Nxb. Quân đội nhân dân, 1990, tr.15
(3), (4), (5)  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 1
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 4, tr. 1-2
(7) Trần Văn Giàu: Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1993, t.2, tr.42
(8) Trọng Hùng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam qua một số nghiên cứu của học giả nước ngoài”, Thịnh Vượng Việt Nam, ngày 30-8-2024, https://thinhvuongvietnam.com/Content/cach-mang-thang-tam-nam-1945-o-viet-nam-qua-mot-so-nghien-cuu-cua-hoc-gia-nuoc-ngoai-62720
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr. 3

Nguồn: Tapchicongsan.org.vn

Tin liên quan