TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Chính trị
Đăng ngày: 09/09/2026 - Lượt xem: 74
Đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra của Đảng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới

HÀ QUỐC TRỊ - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; kiểm soát quyền lực; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, uy tín chính trị của Đảng trong kỷ nguyên mới. Vì vậy, việc đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra của Đảng rất quan trọng nhằm bảo đảm Nghị quyết của Đảng được thực thi nghiêm túc, hiệu quả.

Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì Hội nghị công bố quyết định kiểm tra, giám sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư năm 2026 đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, ngày 6-3-2026 _Ảnh: daibieunhandan.vn

Công tác kiểm tra của Đảng nhiệm kỳ 2021 - 2026

Tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nhiệm kỳ 2021 - 2026, ủy ban kiểm tra các cấp đã rút ra 6 bài học kinh nghiệm sâu sắc, toàn diện trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra. Các bài học này được tổng kết từ thực tiễn, giúp cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp nghiên cứu, vận dụng sáng tạo vào thực tế của địa phương, đơn vị trong thời gian tới, trong đó có bài học kinh nghiệm: “Công tác kiểm tra, giám sát phải gắn với hoàn thiện thể chế, chính sách, bịt kín những khoảng trống, kẽ hở dễ phát sinh tiêu cực”. Bài học kinh nghiệm này đặt ra yêu cầu cùng với việc tiến hành công tác kiểm tra, giám sát phải hoàn thiện thể chế, chính sách một cách đồng bộ làm cơ sở, căn cứ cho cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp tiến hành xem xét, kết luận và xử lý vi phạm của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng. Cơ chế này tập trung vào khâu phòng ngừa, ngăn chặn hành vi là chủ yếu, không tập trung vào khâu xử lý vi phạm, chuyển từ “bị động” sang “chủ động”; chuyển nhanh, mạnh mẽ trọng tâm từ “xem xét, xử lý” sang “phòng ngừa, cảnh báo từ sớm, từ xa, ngay từ cấp cơ sở” nhằm bảo đảm “đi đúng hướng - làm đúng cách - đạt hiệu quả thực chất” chủ trương, chính sách lớn của Đảng.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; kiểm soát quyền lực; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, uy tín chính trị của Đảng trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh phân cấp, phân quyền mạnh cho các cơ quan, các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị; chuyển đổi số sâu rộng; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa có, vừa chưa có đầy đủ yếu tố của chủ nghĩa xã hội, đặt ra yêu cầu của việc phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường. Điều này cũng làm cho quá trình ra quyết định công trở nên phức tạp hơn, có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố. Vì vậy, việc thiết kế một cơ chế kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước bảo đảm tính hiện đại, dựa trên quản trị rủi ro, dữ liệu và trách nhiệm giải trình trở thành điều kiện bảo đảm để chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV đi vào thực chất, tránh tình trạng “đúng ở chủ trương, nhưng lệch ở thực thi”. Cơ chế kiểm tra quyền lực tập trung phát hiện, ngăn chặn, xử lý việc lạm dụng quyền lực trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy chế làm việc...

Đại hội XIV của Đảng đặt ra nhiệm vụ kép: vừa tạo ra bước bứt phá phát triển (tăng trưởng nhanh, bền vững; đột phá phát triển khoa học và công nghệ; chuyển đổi số; hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả), vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và tính trong sạch, liêm chính của hệ thống chính trị. Đây là đặc trưng nổi bật của giai đoạn mới: phát triển càng nhanh, quyền lực càng phải được kiểm soát; quyền lực càng mạnh, kiểm soát càng phải tương xứng.

Trong cấu trúc Nghị quyết, có thể nhận diện một “trục xuyên suốt” mang tính nguyên tắc: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt. Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài. Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng là điều kiện bảo đảm để hiện thực hóa mục tiêu phát triển. Trong nhiệm kỳ qua, việc kiểm soát quyền lực đã được tăng cường và đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Do vậy, nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIV vẫn tiếp tục khẳng định:Tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(1). Tăng cường kiểm soát quyền lực không phải là kiểm tra nhiều hơn, mạnh hơn, mà là việc thắt chặt, nâng cao hiệu quả các quy trình, biện pháp quản lý, giám sát và kiểm tra nhằm ngăn ngừa vi phạm, giảm thiểu rủi ro, thiết lập quy tắc chặt chẽ hơn, qua đó xây dựng một môi trường làm việc an toàn, minh bạch và hiệu quả.  

Điểm cần nhấn mạnh là kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở đây không chỉ  “chống tiêu cực” theo nghĩa phòng ngừa tội phạm hay xử lý kỷ luật, mà ở tầm chiến lược, kiểm soát quyền lực chính là cơ chế bảo đảm năng lực cầm quyền - bởi năng lực cầm quyền không thể chỉ đo bằng văn kiện, nghị quyết, kế hoạch, mà phải đo bằng khả năng biến chủ trương thành kết quả thực chất, trong đó quyền lực vận hành  đúng nguyên tắc, đúng thẩm quyền, đúng lợi ích chung.

Quyền lực hiện nay phân tán rộng hơn do phân cấp mạnh, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về kiểm soát quyền lực. Phân cấp, phân quyền mở ra cơ hội cho cơ quan, tổ chức, địa phương tăng tốc phát triển, nhưng cũng đặt ra thách thức về quản trị sự phân tán của quyền lực. Quyền quản lý không còn tập trung ở “đầu mối Trung ương”, mà được chuyển giao cho địa phương, cơ sở, đặc biệt là lĩnh vực có giá trị kinh tế lớn (đất đai, đầu tư công, tài chính công, đấu thầu, quy hoạch). Khi quyền lực được chuyển giao cho địa phương, cơ sở, nhưng kiểm soát yếu, thâm chí buông lỏng, thiếu cơ chế kiểm tra hiệu quả thì hậu quả về kinh tế - xã hội là không nhỏ.

Đối với vụ, việc liên quan đến lĩnh vực kinh tế - tài chính trong bối cảnh kinh tế thị trường, quyền quản trị gắn với quyết định có giá trị tài chính lớn: phê duyệt dự án, điều chỉnh quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, đấu giá, giải ngân đầu tư công, chọn nhà thầu, cấp phép, ưu đãi..., nếu bị lợi dụng thì sẽ tác động nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội. Trong nhiều vụ án thuộc các lĩnh vực: chứng khoán, trái phiếu, đất đai, y tế, ngoại giao..., đặc biệt là trong đại án Việt Á, sự cấu kết thông đồng của nhiều cá nhân tại các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong lĩnh vực (y tế, khoa học, công nghệ, nghiên cứu, đào tạo trong quân đội...) cùng với doanh nghiệp “bắt tay”, hình thành “liên minh ma quỷ” để nâng giá, trục lợi.

Quyền lực vận hành trên nền tảng số - mở ra cơ hội kiểm soát bằng dữ liệu, vì lúc này để lại dấu vết dữ liệu: văn bản điện tử, hồ sơ số, dòng tiền, nhật ký xử lý thủ tục hành chính, nhật ký truy cập hệ thống... Đây là thay đổi mang tính “thiết chế” nếu biết khai thác, có thể chuyển kiểm tra từ “đi tìm sai phạm” sang “giám sát dòng chảy quyền lực”.

Quyền lực chính trị là công cụ tổ chức xã hội và phân bổ nguồn lực, nhưng quyền lực có xu hướng tự mở rộng theo hai đường: mở rộng thẩm quyền (lấy thêm quyền quyết, quyền ký, quyền phê duyệt); mở rộng ảnh hưởng (chi phối quy trình, định hình lựa chọn, thao túng thông tin). Đáng chú ý: nhiều trường hợp “tha hóa quyền lực” không bắt đầu bằng tham nhũng vật chất, mà bắt đầu bằng tha hóa ảnh hưởng: ưu tiên thông tin một chiều, tạo “cửa hẹp” trong quy trình, loại trừ phản biện, tạo “điểm nghẽn” để xin - cho.

Tha hóa quyền lực biểu hiện ở 5 dạng thường gặp: Quan liêu (quyền lực tách khỏi thực tiễn và người dân); lạm quyền (vượt thẩm quyền, hoặc dùng thẩm quyền đúng nhưng sai mục tiêu); lợi ích nhóm (quyết định công phục vụ nhóm thân hữu); bao che - đồng lõa (tổ chức hóa sai phạm); né tránh - đùn đẩy (“tha hóa trách nhiệm”, rất nguy hiểm trong phát triển). Các biểu hiện này nếu tích tụ sẽ làm suy giảm niềm tin chính trị, làm suy yếu năng lực cầm quyền từ gốc.

Kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước là hoạt động, công tác quan trọng, bảo đảm sự liên thông, đồng bộ giữa: tự kiểm tra, giám sát trong tổ chức đảng (kỷ luật, nêu gương, quy tắc); cơ chế kiểm soát hành chính nội bộ (quy trình, chuẩn hóa, phân quyền); cơ quan nhà nước: thanh tra, kiểm toán, kiểm sát... (kiểm soát pháp lý - tài chính); giám sát xã hội: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể, báo chí, nhân dân (phát hiện sớm - tạo áp lực minh bạch); trách nhiệm giải trình cá nhân (trục “quyền hạn đi đôi trách nhiệm”)... Nếu một hoạt động, một cơ quan, một quy trình không vận hành hiệu quả, nội dung khác sẽ quá tải hoặc chồng chéo. Vì vậy, công tác kiểm tra phải được thiết kế như “mạch máu” liên thông: cùng dữ liệu - cùng chuẩn rủi ro - cùng ngưỡng cảnh báo - rõ vai trò.

Việc phân cấp mạnh gắn với nguy cơ tập trung quyền lực: “cấp càng gần dân, rủi ro càng sát lợi ích”. Phân cấp mạnh khiến nhiều quyết định gắn trực tiếp đời sống nhân dân và doanh nghiệp (đất đai, giấy phép, thuế phí, dự án, đền bù, đấu thầu, dịch vụ công...). Ở cấp cơ sở, quyền lực nhỏ, nhưng “sát sườn”, dễ phát sinh tiêu cực “vặt” hoặc lợi ích nhóm cục bộ. Nhiều nguy cơ điển hình khi tập trung quyền lực, như giảm phản biện nội bộ (tập thể hóa hình thức), lợi ích cục bộ địa phương (ưu tiên “người nhà”, “doanh nghiệp sân sau”, “đất vàng”)... Để khắc phục vấn đề tập trung quyền lực khi phân cấp, cần bảo đảm nguyên tắc: phân cấp đến đâu, kiểm soát đến đó; giao quyền đến đâu, giao luôn công cụ đo lường trách nhiệm đến đó. Sai phạm hiện nay không còn đơn lẻ, mà mang tính chuỗi: Hợp thức hóa qua quy trình, nhưng sai bản chất; ẩn trong quyết định tập thể với tình trạng “không ai chịu trách nhiệm”; che chắn bằng vẻ bề ngoài phù hợp về mặt pháp lý. Vì vậy, nếu kiểm tra chỉ dựa vào đơn, thư tố cáo hoặc khi có dấu hiệu vi phạm, sẽ luôn “đi sau”, khi chủ thể phát hiện dấu hiệu vi phạm, tiến hành kiểm tra thì đã muộn và để lại hậu quả lớn, khó khắc phục. Do vậy, cần đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát đáp ứng yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới. Trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ: Đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát chuyển từ “bị động” sang “chủ động”(2). Phương thức này đòi hỏi vai trò chủ động của chủ thể kiểm tra trong thực hiện các bước quy trình nghiệp vụ, đặc biệt là việc giám sát sớm, cảnh báo sớm, phòng ngừa từ xa, ngay từ cơ sở, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành vi phạm nghiêm trọng, vi phạm ít người trở thành vi phạm của nhiều người. Tăng cường vai trò trung tâm của ủy ban kiểm tra các cấp trong việc tổ chức giám sát thường xuyên từ Trung ương xuống cơ sở thông qua hệ thống cảnh báo sớm, phân tích dữ liệu, báo cáo định kỳ, kiểm tra chuyên đề diện rộng; triển khai hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát đối với vấn đề nóng, dư luận xã hội quan tâm, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc dự án sau kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra... góp phần khơi thông nguồn lực, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Cùng với việc phát huy vai trò trung tâm của ủy ban kiểm tra thì cần có cơ chế tự kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương tới cơ sở để phòng ngừa, phát hiện vi phạm từ sớm, từ xa. Trong Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng nhằm giữ vững, kỷ cương, kỷ luật của Đảng; coi trọng: “tăng cường tự kiểm tra, giám sát trong nội bộ ngay từ chi bộ để phòng ngừa, phát hiện vi phạm từ sớm, từ xa”.

Kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước nếu thực hiện cực đoan sẽ tạo tâm lý sợ trách nhiệm, sợ sai, sợ rủi ro, không dám làm hoặc làm việc cầm chừng dẫn đến xu hướng lựa chọn giải pháp an toàn thay vì giải pháp tối ưu. Do đó, đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát cần bảo đảm vừa ngăn ngừa lạm quyền, vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vì lợi ích chung, tạo bước đột phá trong tổ chức thực hiện.

Thiết kế thể chế vận hành cơ chế kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong điều kiện chuyển đổi số và phân cấp mạnh. Đặc biệt, Trung ương chủ động phân cấp mạnh cho địa phương với phương châm: “Địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Việc xây dựng cơ chế kiểm tra quyền lực không chỉ dừng ở việc ban hành quy định mang tính nguyên tắc, mà cần được thiết kế như một kiến trúc thể chế vận hành đồng bộ, bảo đảm kiểm soát quyền lực một cách chủ động, minh bạch và hiệu quả. Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và sự gia tăng độ phức tạp của quyết định quản trị công, cơ chế kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước cần được thiết kế dựa trên ba trụ cột: Một là, khung pháp lý rõ ràng. Hai là, năng lực tổ chức thực thi. Ba là, hệ thống phối hợp liên thông giữa các thiết chế kiểm soát quyền lực. Ba trụ cột này tạo thành hệ thống vận hành kiểm soát quyền lực theo hướng hiện đại, trong đó công tác kiểm tra của Đảng giữ vai trò trung tâm, đồng thời liên kết chặt chẽ với thiết chế kiểm soát khác của Nhà nước và xã hội. Xác định rõ cơ chế, phân công, phối hợp thực thi quyền lực Nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cá nhân.

Một số giải pháp đổi mới cơ chế kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Để thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, cần thực hiện một số giải pháp sau về phương diện đổi mới cơ chế kiểm tra của Đảng:

Một là, hoàn thiện khung quy định về kiểm tra việc thực thi quyền lực.

Một trong những điều kiện quan trọng để cơ chế kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước vận hành hiệu quả là xây dựng và chuẩn hóa khung pháp lý đồng bộ, bảo đảm hoạt động kiểm tra được tiến hành trên cơ sở quy định rõ ràng, minh bạch và có khả năng áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống chính trị. Trước hết, cần chuẩn hóa quy định về kiểm tra dựa trên việc nhận diện nguy cơ, tính phức tạp, có tính đến lĩnh vực trong yếu, nhạy cảm, phức tạp, dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong mô hình truyền thống, công tác kiểm tra chủ yếu dựa trên kế hoạch định kỳ hoặc phản ánh từ đơn, thư khiếu nại, tố cáo. Cách tiếp cận này có ưu điểm về tính ổn định, nhưng bộc lộ hạn chế khi quyền lực ngày càng vận hành thông qua quyết định kinh tế - hành chính có giá trị lớn và cấu trúc phức tạp. Vì vậy, cần từng bước thể chế hóa mô hình kiểm tra dựa trên phân tích rủi ro, trong đó cơ quan kiểm tra chủ động nhận diện lĩnh vực, địa bàn và cá nhân có nguy cơ phát sinh sai phạm cao để tập trung nguồn lực kiểm tra. Điều này giúp chuyển bản chất của công tác kiểm tra từ “phản ứng sau vi phạm” sang “phòng ngừa từ sớm”.

Cần xây dựng quy định về quản lý và khai thác dữ liệu phục vụ kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong bối cảnh chuyển đổi số, hầu hết hoạt động quản trị công, như quản lý cán bộ, đầu tư công, đất đai, ngân sách hay thủ tục hành chính đều để lại dấu vết dữ liệu điện tử. Đây là nguồn thông tin quan trọng giúp cơ quan kiểm tra nhận diện sớm dấu hiệu rủi ro. Tuy nhiên, việc khai thác dữ liệu có thể không dễ dàng thực hiện khi yêu cầu về thẩm quyền và trách nhiệm chưa được rõ ràng. Do đó, cần xây dựng hệ thống quy định xác định rõ: phạm vi dữ liệu được phép khai thác phục vụ công tác kiểm tra; cơ chế chia sẻ, kết nối dữ liệu giữa các cơ quan; trách nhiệm cập nhật và chuẩn hóa dữ liệu của các cơ quan quản lý.

Bên cạnh đó, thiết lập quy định chặt chẽ về bảo mật và phân quyền truy cập dữ liệu. Dữ liệu liên quan đến công tác cán bộ, tài sản công hay quyết định kinh tế - hành chính có giá trị lớn đều là dữ liệu nhạy cảm. Nếu không có cơ chế bảo mật và phân quyền rõ ràng thì việc khai thác dữ liệu phục vụ kiểm tra có thể gây rủi ro về an ninh thông tin hoặc bị lạm dụng. Vì vậy, hệ thống quy định về kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước cần quy định rõ: cấp độ bảo mật của từng loại dữ liệu; cơ chế phân quyền truy cập theo chức năng, nhiệm vụ; quy trình kiểm soát việc sử dụng dữ liệu.

Xây dựng chuẩn bộ chỉ số rủi ro quyền lực áp dụng thống nhất. Việc nhận diện rủi ro quyền lực nếu chỉ dựa vào đánh giá chủ quan sẽ khó bảo đảm tính khách quan. Do đó, cần xây dựng hệ thống chỉ số định lượng phản ánh dấu hiệu rủi ro trong những lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ phát sinh sai phạm, như công tác cán bộ, quản lý đất đai, đầu tư công, tài chính công và dịch vụ hành chính. Chỉ số này phải được chuẩn hóa và áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống, qua đó giúp cơ quan kiểm tra có cơ sở khoa học để lựa chọn trọng điểm kiểm tra, đồng thời nâng cao tính minh bạch và công bằng trong hoạt động kiểm tra.

Hai là, nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác kiểm tra.

Cơ chế kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước dù được thiết kế chặt chẽ đến đâu cũng không thể phát huy hiệu quả nếu thiếu đội ngũ cán bộ kiểm tra có năng lực và bản lĩnh. Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ kiểm tra ngày càng cao, đòi hỏi hình thành mô hình năng lực toàn diện.

Trước hết là năng lực chính trị. Cán bộ kiểm tra phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thần công tâm, khách quan. Đây là điều kiện tiên quyết để bảo đảm công tác kiểm tra không bị chi phối bởi lợi ích cá nhân hoặc áp lực bên ngoài. Trong bối cảnh quyền lực kinh tế ngày càng gắn chặt với quyền lực hành chính, cán bộ kiểm tra cần có sự kiên định và độc lập trong nhận xét, đánh giá, phân tích, tổng hợp không để quan hệ lợi ích tác động, chi phối đến kết luận kiểm tra. Thường xuyên chăm lo xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ ủy ban kiểm tra và cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp thực sự bản lĩnh, liêm chính, chuyên nghiệp, am hiểu pháp luật, tinh thông nghiệp vụ, “vừa hồng vừa chuyên”, có dũng khí bảo vệ cái đúng, đấu tranh với cái sai, không chịu bất kỳ sức ép hay cám dỗ nào, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ như tinh thần định hướng của Tổng Bí thư Tô Lâm ‘‘sáng như gương, sắc như gươm”.

Bên cạnh đó, cán bộ kiểm tra cần có năng lực quản trị và hiểu biết thể chế. Kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay không chỉ là kiểm tra việc chấp hành kỷ luật của cá nhân, mà còn phải phân tích quyết định quản trị công có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, như tài chính công, đầu tư, quy hoạch hay quản lý đất đai. Do đó, cán bộ kiểm tra cần có hiểu biết sâu về quy trình quản trị nhà nước, cơ chế vận hành của thể chế và logic của quyết định chính sách. Chỉ khi hiểu rõ cấu trúc của hệ thống quản trị, cán bộ kiểm tra mới có thể phát hiện được lỗ hổng thể chế hoặc hình thức “hợp thức hóa sai phạm” thông qua quy trình.

Cán bộ kiểm tra cần có năng lực phân tích dữ liệu và quản trị rủi ro. Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng của quản trị quyền lực. Công tác kiểm tra hiện đại đòi hỏi cán bộ kiểm tra có khả năng đọc, phân tích và diễn giải dữ liệu để nhận diện các dấu hiệu rủi ro tiềm ẩn. Điều này không có nghĩa mọi cán bộ kiểm tra đều phải trở thành chuyên gia công nghệ, nhưng cần được trang bị kỹ năng cơ bản, như hiểu cấu trúc dữ liệu quản trị; nhận diện chỉ số bất thường; phân tích xu hướng và mô hình rủi ro. Vì vậy, cần xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ kiểm tra theo hướng kết hợp giữa nghiệp vụ kiểm tra truyền thống với năng lực phân tích dữ liệu hiện đại, qua đó hình thành đội ngũ kiểm tra có khả năng thích ứng với yêu cầu của thời đại số. Phương thức kiểm tra phải đổi mới mạnh mẽ, ứng dụng công nghệ, dữ liệu lớn; thực hiện triệt để, hiệu quả công tác chuyển đổi số của ngành kiểm tra Đảng gắn với chuyển đổi số quốc gia, đó là đột phá hàng đầu; đẩy mạnh xây dựng hệ thống dữ liệu công tác kiểm tra, giám sát đầy đủ, kịp thời, thống nhất dùng chung, xuyên suốt trong toàn ngành để triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát trên môi trường số.

Ba là, liên thông giữa các thiết chế kiểm soát quyền lực.

Một đặc điểm quan trọng của hệ thống kiểm soát quyền lực trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự hiện hữu của nhiều thiết chế giám sát khác nhau, như cơ quan kiểm tra của Đảng, thanh tra chinh phủ, kiểm toán nhà nước, cơ quan tiến hành hoạt động tư pháp... Nếu các thiết chế này hoạt động tách rời, thiếu phối hợp thì sẽ dễ dẫn đến tình trạng chồng chéo trong kiểm tra, nhưng vẫn có thể bỏ lọt sai phạm. Vì vậy, cần thiết lập cơ chế liên thông giữa các thiết chế kiểm soát quyền lực trên cơ sở phân định rõ chức năng và trách nhiệm của từng cơ quan.

Cán bộ ủy ban kiểm tra tỉnh ủy Tuyên Quang trao đổi nghiệp vụ tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác kiểm tra giám sát _Ảnh: baotuyenquang.com.vn

Trước hết, cần xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin giữa cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, xét xử, thi hành án.... Thông tin và dữ liệu là nền tảng của mọi hoạt động kiểm soát quyền lực. Việc chia sẻ thông tin giữa các cơ quan liên quan giúp phát hiện sớm dấu hiệu bất thường, đồng thời tránh tình trạng mỗi cơ quan thu thập dữ liệu riêng lẻ gây lãng phí nguồn lực.

Cần phân định rõ vai trò của từng thiết chế trong chuỗi kiểm soát quyền lực. Công tác kiểm tra của Đảng tập trung vào việc kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành đường lối, chủ trương và kỷ luật của Đảng. Thanh tra nhà nước tập trung vào việc phát hiện sai phạm trong quản lý hành chính và kinh tế. Kiểm toán nhà nước đánh giá tính minh bạch và hiệu quả của việc sử dụng tài chính công. Cơ quan tiến hành hoạt động tư pháp xử lý hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Sự phân định rõ ràng này giúp mỗi thiết chế phát huy đúng vai trò của mình, đồng thời tạo thành mạng lưới kiểm soát quyền lực đa tầng.

Cần xây dựng hệ thống dữ liệu chuẩn dùng chung cho thiết chế kiểm soát quyền lực. Việc sử dụng cùng một chuẩn dữ liệu giúp cơ quan giám sát có chung cơ sở thông tin, qua đó hạn chế tình trạng kết luận khác nhau về cùng một vấn đề hoặc “đánh trống bỏ dùi” trong quá trình xử lý sai phạm.

Cần thiết lập cơ chế phối hợp xử lý sau kiểm tra. Nếu phát hiện dấu hiệu vi phạm thuộc phạm vi xử lý của cơ quan có thẩm quyền thì kết quả kiểm tra của một cơ quan cần được chuyển tiếp hợp lý đến cơ quan có thẩm quyền tiếp theo. Cơ chế này giúp bảo đảm mọi dấu hiệu sai phạm đều được xử lý đến cùng, đồng thời nâng cao hiệu lực của toàn bộ hệ thống kiểm soát quyền lực.

Việc thiết kế thể chế vận hành cơ chế kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo hướng nêu trên không chỉ nhằm phát hiện và xử lý sai phạm, mà còn có ý nghĩa sâu xa hơn: tạo lập một hệ thống quản trị quyền lực minh bạch, chủ động và phòng ngừa từ sớm. Khi khung pháp lý được chuẩn hóa, đội ngũ cán bộ kiểm tra được nâng cao năng lực và thiết chế giám sát được liên thông, cơ chế kiểm soát quyền lực sẽ vận hành như một hệ thống bảo đảm kỷ luật quyền lực trong toàn hệ thống chính trị. Đây chính là một trong những điều kiện quan trọng để cụ thể hóa hiệu quả chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Cụ thể hóa chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV đòi hỏi thiết kế lại cơ chế kiểm tra việc thực thi quyền lực gắn với việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo 4 định hướng: Chuyển từ hậu kiểm sang quản trị rủi ro. Dựa trên dữ liệu lớn và chuyển đổi số. Cá thể hóa trách nhiệm, trọng tâm là người đứng đầu. Kết hợp kiểm soát quyền lực với bảo vệ đổi mới sáng tạo.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, cùng với việc đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, hợp lòng dân, mà còn phải tự kiểm tra, kiểm soát được quyền lực của mình một cách khoa học, minh bạch và chủ động với tinh thần “tự chỉ trích”, “tự soi, tự sửa”. Kiểm tra, giám sát không nhằm hạn chế sự phát triển và sức sáng tạo, mà nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh để Đảng thật sự “là đạo đức, văn minh”; kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm phát triển đúng định hướng, vì lợi ích nhân dân. Kiểm tra, giám sát trong kỷ nguyên mới phải chuyển từ “đi tìm sai phạm” sang “thiết kế hệ bảo đảm quyền lực vận hành đúng” - lấy dữ liệu làm nền, lấy trách nhiệm người đứng đầu làm điểm tựa, lấy bảo vệ đổi mới làm động lực./.

---------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 385
(2) Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr. 178

Nguồn: Tapchicongsan.org.vn

 
Tin liên quan