TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Văn hóa - Xã hội
Đăng ngày: 19/07/2026 - Lượt xem: 86
Ngày ấy… chiến tranh đã qua…

Cuộc đời tôi gắn bó với tuyến đường Trường Sơn chỉ khoảng chưa đầy 1 năm, nhưng lại là nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm.

Thời gian đầu của con đường 559 này là những người lính hành quân bộ vào miền Nam với những chiếc gùi trên vai. Tất cả phải giữ bí mật, kể cả những nhãn hiệu, thư từ không được lưu giữ hoặc ghi chữ từ miền Bắc. Nghe đâu trong năm 1959, có 542 cán bộ, chiến sĩ được đưa từ Bắc vào Nam nhận nhiệm vụ. Từ Khe Hó (Quảng Trị), hàng được trung chuyển qua 9 binh trạm (2 trạm ở bắc sông Bến Hải và 7 trạm ở phía nam sông). Những trạm ở bắc sông là đất của miền Bắc, có thể gửi hàng vào ban ngày. Những trạm phía nam sông chỉ có thể gửi vào ban đêm, lấy gỗ mục có lân quang phát sáng gắn lên gùi đi trước. Người đi sau cứ nhìn vệt sáng đó mà đi theo. Khó khăn nhất là vượt qua quốc lộ 9, xe địch đi lại liên tục. Đêm đêm khi vượt qua đường phải có tín hiệu cảnh giới. Người gùi hàng phải mang hai miếng gỗ mỏng lót dưới bàn chân để khi lết qua không để lại dấu chân trên đường. Nếu đoàn đi đông, giao liên sẽ trải tấm nilon ngang đường, khi người cuối cùng đi qua sẽ gấp tấm nilon lại để xóa sạch dấu vết. Nếu hành quân vào chiến trường B2 mất hơn 3 tháng. Nếu vào chiến trường Nam Bộ (Bù Gia Mập), điểm cuối cùng của con đường thì mất khoảng 5 tháng. Qua nhiều năm tháng, đường Trường Sơn, hay còn gọi là đường Hồ Chí Minh đã phát triển thành mạng lưới giao thông hậu cần quân sự chạy từ miền Bắc vào tận chiến trường miền Nam. Xương sống của mạng lưới chạy men theo dãy núi Trường Sơn gồm các tuyến phía đông ngang dọc Trung Bộ và Tây Nguyên và các tuyến phía tây tỏa nhánh chằng chịt qua nhiều vùng đất thuộc Lào và Campuchia để chi viện nhân lực, vật lực cho chiến trường miền Nam. Mạng lưới binh trạm hậu cần, quân sự không ngừng tăng lên theo từng giai đoạn phát triển của chiến trường. Trước khi chuyển hẳn sang vận tải hoàn toàn bằng ô tô, hệ thống trạm giao liên đón tiếp, dẫn đường và bảo vệ bộ đội hành quân có lúc lên đến 76 trạm, cùng với 5 nghìn km đường ống xăng dầu với 114 trạm bơm đẩy cùng hơn 100 kho xăng dầu để cung ứng cho các đoàn xe cơ giới ra vào chiến trường...

Tôi có dịp đi qua nhiều chiến trường, nhưng tuyến đường vận tải Hồ Chí Minh có lẽ là chiến trường ác liệt vào loại nhất. Dọc con đường cùng muôn ngả lối dọc ngang, lơ thơ các cây khộp còn sót lại, bụi đất vì xe cày xéo ngập đến ngang gối chân là ngổn ngang các xác xe ô tô cháy còn trơ khung gầm sắt thép. Cứ khoảng một vài mét lại thấy một xác xe cháy nham nhở. Tuyến đường kéo dài hàng nghìn km chắc bạn sẽ hình dung ra tổn thất về người và xe của ta đến mức nào. Gần binh trạm 14 gì đó, đoàn xe của chúng tôi có dịp nghỉ uống nước, tôi lò mò đi sâu vào khu rừng, thấy có một ụ đá đắp hình nấm mộ, không có đất nên toàn xếp đá lên, tôi nhìn thấy có vệt vải áo bộ đội thấp thoáng. Hình như đó là mảnh áo bộ đội bị con thú nào đó cắn xé thi thể lôi khỏi mộ. Một cảm giác nhức nhối, đau xót dâng trào!

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, đơn vị chúng tôi là lính mới những vẫn được chi viện bổ sung cho chiến trường. Vì quân lực Việt Nam cộng hòa không còn đủ súng ống, nguồn lực chiến tranh nên mức độ oanh tạc, bắn phá các tuyến đường mòn Hồ Chí Minh đã giảm sút rõ rệt... Mức độ ác liệt do bom đạn của địch ngăn chặn các đoàn xe chi viện cho chiến trường trên đường Trường Sơn giảm hẳn. Đơn vị vận tải của tôi gồm 1 tiểu đoàn xe D350 do Hungary viện trợ, lúc này đường ống dẫn xăng dầu của ta vươn dài đến binh trạm 16, nên các xe vận tải quân sự chỉ cần ghé vào là có thể bơm đầy bình xăng hành quân tiếp. Nhưng xe của tiểu đoàn tôi lại chạy bằng dầu diezen nên vẫn phải có xe xitéc chở dầu đi cùng và trên thùng mỗi xe vẫn có một thùng phuy dự trữ. Do thiếu thốn, nên lúc thùng đựng dầu còn nhiều, cánh lái xe đỡ vất vả, nhưng lúc dầu cạn, phải dùng ti-ô hút xuống rất phức tạp. Có lúc dùng sức hút, dầu cạn, phải hút mạnh, dầu ộc vào mồm, vào cổ, được sức trẻ át đi nên cơ thể không xảy ra vấn đề gì. Đường Trường Sơn lúc này rầm rập xe, người hành quân nên công tác phòng không vẫn phải cao độ. Địch vẫn dùng máy bay trinh sát, rồi pháo kích bất cứ lúc nào. Giữa vùng rừng núi, tìm được nơi nào có suối, khe nước cũng rất khó. Có khi từng đại đội phải đi xuyên đêm mới tìm thấy vùng có nước để dừng lại tắm giặt, nấu cơm. Giữa vùng bụi ngập ngang ống chân, trời nóng oi, cán bộ, chiến sĩ ta vì phải bảo đảm tiến độ hành quân nên chỉ còn cách đổ nước trong bi đông (một dụng cụ đựng nước cho quân đội) vào khăn mặt rồi buộc trên đầu cho đỡ nóng. Đến trạm nghỉ, anh em xuống xe chỉ còn mỗi đôi mắt và hàm răng là còn trắng, tất cả bụi bám đầy. Dòng suối chảy ngoằn ngoèo giữa rừng khộp đầy nắng như món quà của thiên nhiên trao tặng, lính ta tha hồ ngụp lặn, nhưng sau này có lệnh từ chỉ huy cảnh giác vì dòng suối đó, cây cối quanh đó đều nhiễm chất độc da cam do địch thả xuống, có lẽ vậy nên nhiều người trong số anh em chúng tôi bị nhiễm chất độc da cam... Rồi có lúc, đoàn quân của chúng tôi không còn hàng nữa. Lúc này, các lực lượng quân đội Sài Gòn vẫn kiên quyết ngăn cản sự tiếp tế của miền Bắc cho miền Nam. Vẫn hàng đàn máy bay ngày đêm oanh tạc, bắn phá, ngăn cản sự tiếp viện cho miền Nam của quân đội ta. Một ngày hè đầy bụi và nóng, đoàn xe của chúng tôi đang hành quân thì các đồng chí thanh niên xung phong của binh trạm gần đó báo động là có máy bay địch nên xe phải nấp vào khe núi bên tán rừng khộp. Lúc đó khoảng 3 giờ chiều, hàng đàn máy bay địch lao xuống thả bom, tập trung đánh phá ác liệt ngầm Kroong và đỉnh đèo 41. Trận địa pháo của ta lập tức bắn trả quyết liệt... Ban Chỉ huy tiểu đoàn của chúng tôi hội ý là bằng giá nào vẫn phải cho đoàn xe nhanh chóng vượt qua trọng điểm nguy hiểm này...

Lực lượng thanh niên xung phong và các lực lượng khác ứng trực rất đông nên chúng tôi yên tâm. Thấy súng của ta quá mạnh, máy bay địch vội vã trút bom rồi chuồn thẳng. Tuy vậy, 3 trận địa pháo của ta cũng trúng bom khiến 29 đồng chí hy sinh, trong đó có 11 đồng chí thanh niên xung phong. Nhiều đồng chí bị thương đưa vào hầm chưa kịp sơ cứu lại bị trúng bom tiếp...

Đoàn xe thoát khỏi tọa độ lửa trên thì đến chiều tối lại phải vượt qua con thác dữ dội ở Đắk Lắk trên sông Sêrêpốk. Đây cũng là tọa độ địch hay đánh phá. Giờ đây mức độ bom đạn đã giảm hẳn nhưng vượt qua ngầm cũng phải thật bản lĩnh. Tay lái cần ghì chặt nếu không các tảng đá và sức nước sẽ đánh ngược lại gẫy tay hoặc xe sẽ bị trôi theo dòng nước hung dữ... Đại đội thanh niên xung phong trực chiến cung đường này. Chiến sĩ đứng bên bậc lên xuống của xe để hướng dẫn anh em vượt ngầm. Mải căng sức ra giữ vững vô lăng nên tôi không kịp nhìn và nói chuyện gì với em gái đó. Đến khi vượt qua nơi nước xiết, gò đá nhấp nhô, tôi có dịp quay sang nhìn rõ mặt cô gái mới ngoài đôi mươi, tóc bay lòa xòa trên má, đầu đội mũ sắt trông kiên định, rắn rỏi... Qua dăm ba câu chuyện, em dúi vào tay tôi mẩu giấy và nói gấp gáp: “Anh có ra Bắc, tìm đến địa chỉ này nói với bố mẹ là trong này em vẫn bình an”. Em nhảy xuống xe và kiên quyết chỉ tay để xe tôi đi tiếp...

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 diễn ra, chúng tôi cuốn vào cuộc chiến của dân tộc... Sau đó, tôi được đơn vị cho ra quân tiếp tục học đại học. Lúc đi bộ đội tôi đơn giản chỉ nghĩ là thanh niên đi đánh Mỹ, để bảo vệ đất nước, không bao giờ nghĩ gì khác. Nhưng rồi được Đảng, Nhà nước chọn lựa, tôi trưởng thành như ngày nay càng biết ơn bao đồng đội đã ngã xuống...

Vào kỳ nghỉ hè, năm thứ 2 của đại học, tôi mới lần theo dòng địa chỉ cô thanh niên xung phong ghi trên mảnh giấy đã ố vàng đó. Có lẽ gần 5 năm sau lần vượt ngầm ác liệt đó, tôi bồi hồi nhớ lại kỷ niệm chiến trường. Đi ô tô khách dừng ngay tại chợ quê vắng vẻ, tôi vào hỏi bà hàng nước, bà đon đả nói: “Đó, bác đi 200m nữa là rẽ vào con đường gạch là nhà cô Xuân ở đó. Cô lấy chồng là thương binh cụt chân, nay đã có 2 con rồi. Vợ chồng chịu khó đáo để. Chồng là thương binh nặng được Nhà nước nuôi dưỡng nhưng vẫn về nhà sinh hoạt ở cùng vợ con. Chú ấy người miền trong nhưng gia đình không còn ai nên cũng ít về quê nội mà ở rể luôn quê vợ”. Tôi cố đi thêm một đoạn nữa, thấy căn nhà mái ngói đỏ và khoảng sân gạch, trước có giàn hoa thiên lý. Căn nhà khép hờ và thấy có đôi nạng gỗ để ngay cạnh cửa... Tôi lặng người đi một chút rồi từ từ quay đi, rời xa căn nhà nhỏ bé và thân thuộc như tôi đã từng ấp ủ gần chục năm. Lúc bấy giờ, không còn chiến tranh, đất nước đã hòa bình, nhưng chúng tôi, những người lính vẫn còn nhiều nỗi niềm thật khó tả.

Nguồn:baohungyen.vn

Tin liên quan