TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Phòng chống tham nhũng, tiêu cực
Đăng ngày: 21/09/2026 - Lượt xem: 79
Vi phạm trong thực thi nguyên tắc tập trung dân chủ và giải pháp khắc phục

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng qua gần 100 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, luôn kiên trì nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đây là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, chỉ đạo toàn bộ việc xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất, đồng thời tăng cường phát huy dân chủ trong Đảng. Đảng ta luôn khẳng định và nhất quán quan điểm: “Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”(1). Để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc và thực hiện nghiêm nguyên tắc đặc biệt quan trọng này.

Đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương kiểm tra công tác bầu cử ở phường Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Ảnh: TTXVN

Thực trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ thời gian qua

Tập trung dân chủ (TTDC) là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng, nhằm phát huy tốt nhất trình độ, năng lực sáng tạo của đội ngũ đảng viên trong quá trình xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm mọi quyết sách đều là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng. Không chỉ thể hiện sự thống nhất ý chí trong Đảng, nguyên tắc cơ bản này còn bắt buộc các hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên theo đúng Cương lĩnh, đường lối, Điều lệ, các quy chế, quy định mà mọi thành viên trong tổ chức đó đều phải tuân thủ.

Nguyên tắc TTDC, nói một cách cụ thể, là tập trung trên cơ sở dân chủ, theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số; đồng thời là sự gắn kết giữa cấp trên với cấp dưới, cấp trên lắng nghe và tôn trọng ý kiến của cấp dưới, và cấp dưới tự giác chấp hành cấp trên. Đồng thời, tập trung gắn liền với dân chủ, được quyết định bởi nền tảng dân chủ là sự tập trung do toàn thể đảng viên xây dựng lên, thể hiện ý chí, trí tuệ, quyền lực của đa số đảng viên tạo nên một cách thống nhất và tự giác.

Nhận định về tình trạng vi phạm nguyên tắc TTDC, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Đảng ta cảnh báo: “Các  nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát… một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt việc tốt không được đề cao, bảo vệ; vi phạm không được xử lý nghiêm minh. Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, ráo riết; đấu tranh với những sai phạm còn nể nang, không nghiêm túc”(2). Mặc dù tình trạng này đã được Đảng chỉ ra nhưng đến nay tình hình vẫn còn diễn biến phức tạp.

Hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước của tổ chức đảng và đảng viên, những vụ án, vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí đặc biệt nghiêm trọng thời gian qua thường bắt đầu từ vi phạm nguyên tắc TTDC, từ đó dẫn đến những vi phạm, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý. Trong các nhiệm kỳ vừa qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp đã kiểm tra, xử lý kỷ luật nhiều cán bộ, trong đó một số tập thể, cán bộ chủ chốt đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc TTDC, quy chế làm việc của cấp ủy. Trong hai nhiệm kỳ XII, XIII, cấp ủy các cấp đã kiểm tra đối với 81.061 tổ chức đảng và giám sát 58.640 tổ chức đảng trong việc thực hiện quy chế làm việc, nguyên tắc TTDC; kiểm tra việc chấp hành quy chế làm việc, việc thực hiện nguyên tắc TTDC đối với 518.401 đảng viên. Ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp đã phát hiện, xác định kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm việc chấp hành nguyên tắc TTDC, quy chế làm việc đối với 10.905 đảng viên; giám sát việc thực hiện quy chế làm việc, thực hiện nguyên tắc TTDC 46.781 tổ chức đảng; công tác cán bộ 7.651 tổ chức đảng. UBKT các cấp cũng đã thực hiện giám sát việc chấp hành quy chế làm việc, nguyên tắc TTDC, chế độ công tác đối với 66.577 đảng viên. Qua kiểm tra, kết luận các tổ chức và cá nhân đều có vi phạm, khuyết điểm và phải xem xét, xử lý kỷ luật về đảng, chính quyền; đồng thời, kịp thời chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với một số trường hợp. Kết quả phát hiện 1.378 tổ chức đảng vi phạm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; 730 tổ chức đảng vi phạm công tác tổ chức, cán bộ và công tác đảng viên; đã xử lý kỷ luật 261 tổ chức đảng có vi phạm. Có 3.943 đảng viên vi phạm nguyên tắc TTDC; 1.107 đảng viên vi phạm trong công tác tổ chức cán bộ; đã xử lý kỷ luật đối với 3.024 đảng viên vi phạm.

Qua kiểm tra, xem xét, xử lý kỷ luật đối với các tổ chức đảng và đảng viên vi phạm nhận thấy: Mặc dù số tổ chức đảng, đảng viên vi phạm phải thi hành kỷ luật hằng năm tăng không nhiều, song tính chất, mức độ vi phạm ngày càng đa dạng, phức tạp, hậu quả vi phạm ngày càng lớn, có những vụ việc gây thiệt hại rất lớn tiền, tài sản nhà nước; nhiều vi phạm diễn ra trong thời gian dài nhưng không được phát hiện, kiểm tra kịp thời, dẫn đến khi xử lý để lại hậu quả nặng nề.

Các vi phạm phổ biến trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ

Từ sau Đại hội XII đến cuối nhiệm kỳ XIII, một số vụ việc vi phạm nguyên tắc TTDC gây hậu quả nghiêm trọng, hệ lụy kéo dài khó khắc phục ở các địa phương, đơn vị (Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Khánh Hòa, Phú Yên…). Qua kiểm tra, giám sát việc chấp hành nguyên tắc TTDC nổi lên một số vấn đề cần được quan tâm, đó là: Một số tổ chức đảng chưa nhận thức đúng và đầy đủ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của việc thực hiện nguyên tắc TTDC, nhất là trong sinh hoạt đảng, công tác cán bộ, trong lãnh đạo, chỉ đạo quản lý, điển hình là lĩnh vực quản lý tài chính, tài sản, quy hoạch, dự án, đất đai, môi trường; thực hiện nguyên tắc TTDC nhưng khi bàn bạc, thảo luận, thống nhất quyết định về chủ trương, nghị quyết đã chưa phản ảnh đúng bản chất, trí tuệ của tập thể, còn mang tính dân chủ hình thức hoặc lợi dụng cơ chế dân chủ để lồng ghép ý đồ của người đứng đầu, lợi dụng vào tổ chức để thâu tóm quyền lực, thực hiện vì mục đích vụ lợi, động cơ cá nhân. Nguyên tắc TTDC có nơi thực hiện chưa nghiêm, chưa phân định thật rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu; việc quản lý cán bộ còn bộc lộ nhiều sơ hở, bị lợi dụng, tính Đảng của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý còn yếu kém. Đánh giá cán bộ trước khi bổ nhiệm ở nhiều nơi còn hạn chế, chưa phản ánh thực chất; một số trường hợp mới được bổ nhiệm đã bộc lộ yếu kém, mắc một số vi phạm, khuyết điểm, thậm chí bị xử lý kỷ luật, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược. Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử có nơi còn biểu hiện cục bộ, khép kín; đúng quy trình nhưng chưa trúng người, đúng việc. Vẫn còn hiện tượng lợi dụng tập thể, để thực hiện ý chí của người đứng đầu; hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm, đoàn kết một chiều trong bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử. Một số cấp ủy, tổ chức đảng để xảy ra những sai phạm, khuyết điểm kéo dài, mất đoàn kết nội bộ, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân…

Biểu hiện các hành vi vi phạm nguyên tắc TTDC như sau:

Trong xây dựng và ban hành quy chế làm việc:

Chậm ban hành quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng hoặc chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh quy chế làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn của thường trực cấp ủy trong nhiệm kỳ theo quy định của Trung ương. Ban hành quy chế làm việc có nội dung chưa đúng thẩm quyền, chưa cụ thể, chặt chẽ, chưa quy định đầy đủ các nội dung theo đúng quy chế làm việc mẫu do Trung ương hướng dẫn; phân định nhiệm vụ, quyền hạn của tập thể, cá nhân, mối quan hệ công tác với tổ chức đảng, cơ quan liên quan chưa đầy đủ, rõ ràng, chặt chẽ.

Trong tổ chức thực hiện quy chế làm việc:

Qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phát hiện các vi phạm phổ biến, cụ thể:

Thứ nhất, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong họp bàn thảo luận, quyết định các nội dung quan trọng theo quy chế:

- Ban thường vụ cấp ủy cho chủ trương vượt thẩm quyền, không đúng với nghị quyết, chỉ thị, quy định của cấp trên, của pháp luật hoặc chưa được cơ quan chủ quản cấp trên chấp thuận theo quy định của pháp luật; không đưa ra họp bàn, thảo luận, cho chủ trương đối với các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn theo quy chế làm việc,...

- Thường trực cấp ủy vi phạm khi kết luận, cho chủ trương, ban hành văn bản chỉ đạo, cho ý kiến đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của ban thường vụ cấp ủy, không được ban thường vụ ủy quyền, không đưa ra tập thể ban thường vụ thảo luận, thống nhất, cho ý kiến.

- Ban cán sự đảng UBND không báo cáo, xin ý kiến thường trực, ban thường vụ tỉnh ủy cho ý kiến đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của thường trực, ban thường vụ tỉnh ủy theo quy chế làm việc; nội dung báo cáo, xin ý kiến thường trực, ban thường vụ không đúng quy định...

- Một số vi phạm cơ bản của cá nhân người đứng đầu: (i) Thiếu trách nhiệm trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện nguyên tắc TTDC, quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng. (ii) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phủ quyết ý kiến của đa số thành viên khi thông qua nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận thuộc thẩm quyền của tập thể. (iii) Trực tiếp kết luận, chỉ đạo, chấp thuận các chủ trương hoặc cùng với thường trực cấp ủy quyết định các chủ trương thuộc thẩm quyền của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy. (iv) Chỉ đạo giải quyết “lấn sân”, vượt thẩm quyền, trực tiếp chỉ đạo nhiều công việc cụ thể của chính quyền, bao biện và làm thay, thực hiện không đúng nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu.

Thứ hai, vi phạm nguyên tắc TTDC trong thực hiện các quy trình về công tác cán bộ:

- Không thực hiện hoặc chậm thực hiện việc rà soát, bổ sung quy hoạch đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý; rà soát, bổ sung quy hoạch trái thẩm quyền; không thực hiện đúng quy trình, điều kiện, thời điểm, quy hoạch cán bộ không đủ điều kiện,…

- Cho ý kiến về việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển chức danh lãnh đạo, quản lý không đúng quy trình, quy định, không bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn, không thực hiện trao đổi, thống nhất ý kiến trong tập thể cấp ủy, không có văn bản thống nhất của cấp ủy, không trao đổi với đơn vị có người điều động, luân chuyển và nơi tiếp nhận người điều động, luân chuyển đến,…

- Việc đánh giá cán bộ chưa đúng thực chất, còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh trách nhiệm, ngại va chạm và dân chủ hình thức; tinh thần tự phê bình và phê bình chưa cao; đánh giá cán bộ còn chủ quan, mang tính cá nhân, cục bộ hoặc bị các mối quan hệ xã hội khác chi phối mà chưa phản ánh chính xác phẩm chất, năng lực của cán bộ; tình trạng “lợi ích nhóm”, tư tưởng bè phái, tình trạng “chạy” phiếu bầu, “chạy” tín nhiệm…

- Trong công tác tổ chức, cán bộ còn mang tính cục bộ địa phương (tập trung ở một số huyện, đồng hương); người thân, người nhà của các đồng chí lãnh đạo bổ nhiệm không đủ điều kiện, không đúng quy trình, quy định, không đủ năng lực.

- Có biểu hiện né tránh, thiếu trách nhiệm trong việc xem xét, thi hành kỷ luật đối với một số tổ chức đảng có vi phạm, làm giảm tác dụng răn đe, giáo dục cán bộ, đảng viên; một số trường hợp thi hành kỷ luật chưa tương xứng nội dung, tính chất, mức độ vi phạm.

Thứ ba, vi phạm nguyên tắc TTDC trong thực hiện các kết luận, chỉ đạo của cấp trên:

Kết luận kiểm tra, giám sát của Đảng cơ bản đều được các tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị chấp hành nghiêm và được cấp ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai, khắc phục các vi phạm, khuyết điểm đã được chỉ ra. Tuy nhiên, qua công tác “hậu” kiểm tra, giám sát, bên cạnh một số địa phương triển khai còn chậm, chưa hoàn thành triệt để yêu cầu do gặp vướng mắc về cơ chế, chính sách, cần xin ý kiến các cấp, ngành Trung ương thì vẫn còn một số địa phương thực hiện chưa nghiêm túc, chấp hành chưa nghiêm các kết luận kiểm tra, giám sát, dẫn đến vi phạm kéo dài, nhiều tổ chức đảng, đảng viên tiếp tục bị xử lý kỷ luật, gây dư luận xấu trong xã hội. Cụ thể:

- Một số trường hợp ban thường vụ không kịp thời cho chủ trương hoặc cho chủ trương chung chung về việc khắc phục vi phạm, khuyết điểm (các dự án) theo Thông báo kết luận của UBKT Trung ương nên chậm khắc phục vi phạm, khuyết điểm (hơn 2 năm từ thời điểm UBKT Trung ương kết luận) và không có biện pháp xử lý dứt điểm các vi phạm, tồn tại của dự án, gây lãng phí nguồn lực, gây dư luận xấu trong xã hội.

- Nhiều tổ chức đảng và đảng viên vi phạm theo kết luận của UBKT Trung ương, tuy nhiên việc ban thường vụ không ban hành nghị quyết, kết luận về việc khắc phục những vi phạm là nguyên nhân dẫn đến việc lặp lại vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong họp bàn, báo cáo xin chủ trương thường trực tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy; xem nhẹ vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo trong việc khắc phục vi phạm, khuyết điểm.

Thứ tư, vi phạm nguyên tắc TTDC trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ, công tác thanh tra, kiểm tra và xây dựng pháp luật (qua kiểm tra, giám sát một số ban cán sự đảng/đảng đoàn các bộ, ngành):

- Không ban hành các quy định về phân cấp quản lý cán bộ, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử (diện quản lý) theo Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19-7-2017, của Bộ Chính trị về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ và tiêu chí đánh giá đối với từng chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý theo Quy định số 89-QĐ/TW, ngày 4-8-2017, của Bộ Chính trị về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”.

- Không họp, thảo luận quyết định tập thể, để người đứng đầu bộ/ngành ban hành một số quy định và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành một số văn bản về công tác cán bộ vi phạm Điều 2, Quy định số 172-QĐ/TW, ngày 7-3-2013, của Bộ Chính trị về “Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ công tác của đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương” và Quyết định số 200-QĐ/TW, ngày 2-10-2013, của Ban Bí thư về “Quy chế về quan hệ công tác giữa ban cán sự đảng bộ, ngành với bộ trưởng, thủ trưởng ngành”; thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo để bộ/ngành ban hành quyết định có một số nội dung quy định về thẩm quyền của Bộ trưởng trong việc cho chủ trương bổ nhiệm cán bộ và quyết định bổ nhiệm lại cán bộ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và các quy định như: Quy định số 172-QĐ/TW, Quyết định số 200-QĐ/TW, Quy định số 105-QĐ/TW…

- Không kịp thời rà soát, đưa ra khỏi quy hoạch những trường hợp quá tuổi, vi phạm Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW, ngày 5-11-2012, của Ban Tổ chức Trung ương “Về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30-11-2004, của Bộ Chính trị khóa IX và Kết luận số 24-KL/TW, ngày 5-6-2012, của Bộ Chính trị khóa XI”. Để người đứng đầu bộ/ngành đồng ý chủ trương bổ nhiệm một số đồng chí và ký quyết định bổ nhiệm lại một số đồng chí không thông qua ban cán sự đảng/đảng đoàn, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, Quy định số 172-QĐ/TW và Quy định số 105-QĐ/TW; bước xin chủ trương đối với những trường hợp được bổ nhiệm, ban cán sự đảng/đảng đoàn không họp, thảo luận tập thể mà thành viên Ban cán sự đảng/Đảng đoàn cho ý kiến vào tờ trình của văn phòng ban cán sự đảng/đảng đoàn, vi phạm Quy định số 172-QĐ/TW, Quy định số 105-QĐ/TW và quy chế làm việc của ban cán sự đảng/đảng đoàn.

- Quyết định bổ nhiệm lại một số trường hợp chậm (bổ nhiệm lại chậm về thời gian nhưng lấy thời điểm bổ nhiệm vào đúng ngày hết hạn bổ nhiệm lại), vi phạm Nghị định số 24/2010/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và Nghị định số 138/2020/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; ban hành nghị quyết cho chủ trương bổ nhiệm cán bộ từ nguồn nhân sự tại chỗ, nhưng nêu đích danh tên cán bộ, vi phạm Quyết định 27/2003/QĐ-TTg, ngày 19-2-2003, của Thủ tướng Chính phủ về “Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo”; để bộ/ngành tiếp nhận bổ nhiệm, bổ nhiệm một số trường hợp cán bộ không bảo đảm thủ tục và điều kiện, tiêu chuẩn về trình độ chính trị.

Để người đứng đầu bộ/ngành đồng ý chủ trương bổ nhiệm và ký quyết định bổ nhiệm lại một số trường hợp không xin ý kiến, thảo luận trong các cuộc họp của ban cán sự đảng/đảng đoàn, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và các Quy định số 172-QĐ/TW và Quy định số 105-QĐ/TW.

Ban cán sự đảng/đảng đoàn không tham gia ý kiến trong việc bộ/ngành tiếp nhận bổ nhiệm, bổ nhiệm lại một số trường hợp nên khi bổ nhiệm không bảo đảm thủ tục và điều kiện, tiêu chuẩn về trình độ chính trị.

- Không họp, thảo luận tập thể để lãnh đạo công tác kiểm tra, thanh tra và lãnh đạo, chỉ đạo những định hướng chính trong việc tham mưu xây dựng các dự án luật và các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng mà bộ/ngành giao chủ trì soạn thảo, vi phạm Quy định số 172-QĐ/TW và quy chế làm việc của ban cán sự đảng/đảng đoàn.

Thiếu kiểm tra, đôn đốc dẫn đến việc tham mưu ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật còn chậm, chưa kịp thời với thời gian hiệu lực của các luật. Chương trình xây dựng pháp luật hằng năm chưa phù hợp, phải điều chỉnh nhiều lần, có đề án buộc phải đề nghị xin điều chỉnh tiến độ, bổ sung chương trình hoặc xin rút khỏi kế hoạch năm.

Công tác thanh tra, kiểm tra của bộ/ngành hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu, cụ thể: chưa phát hiện kịp thời các bất cập của chính sách do bộ/ngành ban hành, tham mưu ban hành trong quá trình thực hiện để tham mưu cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung; chưa tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm, số lượng các cuộc thanh tra chưa nhiều, kết quả còn hạn chế.

Công tác kiểm tra thực hiện pháp luật của các đơn vị chức năng bộ/ngành còn hình thức, không ban hành quy trình kiểm tra, kết thúc các cuộc kiểm tra nhiều đơn vị không ban hành văn bản, chỉ nhắc nhở trong quá trình làm việc của đoàn công tác với đối tượng kiểm tra. Hậu quả là tình trạng vi phạm pháp luật còn diễn ra tại nhiều địa phương, thời gian dài chưa được chấn chỉnh, khắc phục; buông lỏng quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để một số tổng công ty thuộc bộ/ngành có nhiều sai phạm trong quản lý, bảo toàn vốn; chưa thực hiện đầy đủ các kiến nghị kết luận thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền.

Những sai phạm xảy ra trong thực hiện nguyên tắc TTDC thời gian qua cơ bản là do xem nhẹ, thực hiện không đúng hoặc cố ý không thực hiện đúng nguyên tắc, thậm chí tìm mọi cách đối phó, làm sai lệch nguyên tắc; tuy thực hiện đủ quy trình, hình thức, thủ tục, nhưng thực chất là thực hiện không đúng nguyên tắc vì động cơ không trong sáng, phục vụ cho “lợi ích nhóm”, lợi ích cá nhân. Phải nhìn nhận, vi phạm nguyên tắc TTDC là vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, nếu không muốn nói là vi phạm nghiêm trọng nhất trong hoạt động của tổ chức đảng, bởi vì nó làm mất đi sức mạnh và kỷ luật của Đảng; làm sai lệch toàn bộ các mặt của công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; tác động xấu đến sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng. Do vậy, trong sinh hoạt đảng, nhất là trong sinh hoạt cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy phải thường xuyên kiểm điểm nghiêm túc, sâu sắc về việc thực hiện cơ chế thực thi nguyên tắc TTDC của Đảng, để kịp thời chỉ ra những biểu hiện nhận thức, thực hiện không đúng, xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân, từ đó có biện pháp chấn chỉnh, không để sai phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm lớn, vi phạm nghiêm trọng. Đồng thời, xây dựng kế hoạch, chương trình bồi dưỡng, nâng cao trình độ, lý luận về công tác xây dựng Đảng cho đảng viên nhằm giúp nhận thức đúng, đầy đủ về nguyên tắc TTDC góp phần thực hiện và tham gia, góp ý trong sinh hoạt của tổ chức đảng bảo đảm đúng nguyên tắc với mục tiêu phát huy đầy đủ trí tuệ của cán bộ, đảng viên, kể cả của quần chúng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức đảng nói riêng và của Đảng trong dẫn dắt Nhà nước và xã hội phát triển phục vụ mục tiêu dân giàu, nước mạnh.

Thực tiễn cho thấy, những vi phạm nguyên tắc TTDC của một số cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn trong 2 nhiệm kỳ XII, XIII của Đảng đều bắt nguồn trực tiếp hoặc gián tiếp từ sai phạm của người đứng đầu. Có những nơi, người đứng đầu đã áp đặt ý kiến cá nhân, gây sức ép để các thành viên trong tổ chức đảng thống nhất theo đa số để thay đổi một chủ trương đã được ban hành bằng văn bản, như miễn giảm 10% tiền sử dụng đất phải nộp, trong khi cơ quan chuyên môn và một số thành viên vẫn có ý kiến không đồng ý việc này như đã quyết định trước đây. Hậu quả sau này xảy ra một vụ án hình sự, một số cá nhân bị khởi tố, tổ chức đảng và người đứng đầu bị xử lý kỷ luật. Một số nơi, người đứng đầu lợi dụng ý kiến và biểu quyết tập thể để quyết định bổ nhiệm cán bộ, quyết định chủ trương nhiều dự án đầu tư ngoài ngân sách trái quy định...

Nguyên nhân dẫn tới những vi phạm nêu trên một phần là do quy định của Đảng chưa thể chế hóa, cụ thể hóa được hết mọi lĩnh vực; việc thực hiện dân chủ chưa gắn với việc ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành kỷ cương, kỷ luật của Đảng; trong phê và tự phê bình còn có biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va chạm, không dám đấu tranh bảo vệ cái đúng mà nghe theo một chiều ý kiến của lãnh đạo; chưa kiên quyết về quyền được bảo lưu ý kiến trái chiều của đảng viên. Cá biệt, còn có hiện tượng “tư duy một chiều”, “tư duy đặt hàng” trong công tác tham mưu, thực hiện nhiệm vụ nên để lại hậu quả nặng nề và nhiều hệ lụy trong  thực hiện cơ chế thực thi nguyên tắc TTDC ở địa phương, đơn vị.

Có thể thấy, vi phạm nguyên tắc TTDC không chỉ do vấn đề nhận thức, mà còn là vấn đề kỷ luật tổ chức, cơ chế vận hành và trách nhiệm cá nhân - những khâu then chốt quyết định hiệu quả thực thi dân chủ trong thực tiễn.

Đoàn kiểm tra, giám sát của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang làm việc với ban thường vụ đảng ủy một số xã, phường trên địa bàn tỉnh

Giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong bối cảnh hiện nay

Việc thực hiện nguyên tắc rường cột trong tổ chức và hoạt động của Đảng trong bối cảnh hiện nay cần phải xem xét đến nhiều khía cạnh, vấn đề đang đặt ra như: (i) Thực hiện giai đoạn tiếp theo của cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn hệ thống chính trị là hoàn thiện, ổn định tổ chức bộ máy, nhất là bộ máy tổ chức đảng. (ii) Cần làm rõ, gắn thực hiện nguyên tắc với trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi chủ thể, người đứng đầu các loại hình tổ chức đảng và trong chính quyền địa phương 2 cấp vào các quy chế, quy định, hướng dẫn... Để làm tốt công tác cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm nguyên tắc TTDC trong tình hình mới cần chú trọng thực hiện các giải pháp cốt lõi:

Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy phải có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vị trí, vai trò, nội dung của nguyên tắc TTDC; nêu cao ý thức trách nhiệm, chấp hành nguyên tắc TTDC trong mối quan hệ với các nguyên tắc tổ chức, hoạt động khác của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời ban hành quy chế làm việc cụ thể, rõ ràng, phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền giữa tập thể lãnh đạo và cá nhân người đứng đầu. Khắc phục triệt để tình trạng bao biện, áp đặt hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Tạo môi trường thẳng thắn để góp ý và phê bình xây dựng nội bộ.

Hai là, đề cao vai trò người đứng đầu, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, dám chịu trách nhiệm và minh bạch trong công tác quản lý. Ngăn chặn biểu hiện độc đoán, chuyên quyền trong công tác lãnh đạo. Công khai thông tin và kết quả giải quyết các vấn đề quan trọng trên phương tiện truyền thông. Mỗi quyết định quan trọng phải có căn cứ truy nguyên đầy đủ: Ai đề xuất, ai thẩm định, ai tham gia ý kiến, ai biểu quyết, ai ký, ai tổ chức thực hiện và chủ thể nào có trách nhiệm kiểm tra. Không để nguyên tắc tập thể quyết định trở thành cơ chế hòa tan trách nhiệm cá nhân.

Ba là, tăng cường kiểm tra, giám sát, chủ động phát hiện sớm các dấu hiệu buông lỏng quản lý hoặc mất đoàn kết. Xử lý kỷ luật nghiêm minh các cá nhân, tổ chức cố tình vi phạm nguyên tắc. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm không chỉ khi trực tiếp vi phạm mà phải chịu trách nhiệm cả khi buông lỏng lãnh đạo, quản lý; không tổ chức kiểm tra; bỏ qua dấu hiệu chậm xử lý cảnh báo; để vi phạm kéo dài hoặc tái diễn trong phạm vi phụ trách. Đồng thời, phải giao đủ thẩm quyền, công cụ, dữ liệu và nhân lực để người đứng đầu có khả năng thực hiện trách nhiệm, tránh tình trạng quy trách nhiệm nhưng không giao quyền tương xứng.

Bốn là, nâng cao chất lượng tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng. Tự kiểm tra, giám sát phải trở thành tuyến phòng vệ đầu tiên trong hoạt động của tổ chức đảng. Người đứng đầu phải tổ chức rà soát thường xuyên việc thực hiện nguyên tắc TTDC, quy chế làm việc, phân công, thẩm quyền, công tác cán bộ, quản lý tài chính, tài sản và tiến độ thực hiện kết luận, kiến nghị.

Thực tiễn đã kiểm nghiệm và minh chứng: Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc TTDC là nhân tố bảo đảm tổ chức đảng luôn đoàn kết, giữ vững sức chiến đấu, tránh được tình trạng quan liêu, độc đoán hoặc vô kỷ luật, phân rã, đồng thời tạo ra động lực bứt phá cho đất nước. Vì vậy, nhận diện để hiểu đúng, thực hiện đúng, phòng ngừa vi phạm trong thực hiện nguyên tắc TTDC - không chỉ là “nguyên tắc trong tổ chức, sinh hoạt” mà đã trở thành nguyên tắc trong quản trị, cầm quyền hiện đại - vừa là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, vừa là yêu cầu cấp bách của toàn Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc./.

------------------------------------

(1) Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 37, tr. 830
(2) Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, "Về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"

Nguồn: Tapchicongsan.org.vn

 
Tin liên quan