TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN RA SỨC THI ĐUA THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!
Giới thiệu về tỉnh
Đăng ngày: 17/10/2026 - Lượt xem: 35
Gác chuông chùa Keo: Tuyệt tác kiến trúc gỗ thời Hậu Lê

Tọa lạc tại xã Vũ Tiên, chùa Keo (tên chữ Thần Quang Tự) gắn với Thiền sư Dương Không Lộ, vị cao tăng thời Lý có công dựng chùa và truyền bá Phật pháp. Ngôi chùa được khởi công xây dựng vào tháng 8/1630, hoàn thành năm 1632 dưới thời Lê Trung Hưng, theo bố cục “nội nhị công, ngoại nhất quốc”, lối thờ “tiền Phật - hậu Thánh”. Năm 2012, chùa Keo được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Quần thể gồm 17 công trình, 128 gian, lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và kiến trúc truyền thống. Trong tổng thể ấy, gác chuông nằm ở cuối trục “thần đạo”, nổi bật với kiến trúc nhiều tầng mái và hệ thống kết cấu gỗ công phu, thể hiện trình độ kỹ thuật và nghệ thuật kiến trúc gỗ thời Hậu Lê.

Hướng dẫn viên Ban Quản lý di tích tỉnh giới thiệu vẻ đẹp gác chuông chùa Keo tới du khách.

Năm 2007, chùa Keo được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Ngôi chùa có gác chuông gỗ cao nhất Việt Nam”. Với chiều cao 11,04m, gác chuông được dựng theo kiểu “chồng diêm, cổ các”, gồm ba tầng với tổng cộng 12 mặt mái tỏa ra bốn hướng. Những đầu đao ở các góc mái vươn ra bốn phía và uốn cong nhẹ, góp phần tạo nên vẻ mềm mại cho công trình.

Lần đầu tiên đặt chân đến di tích, anh Nguyễn Xuân Hòa (du khách đến từ xã Bắc Yên, tỉnh Sơn La) xúc động chia sẻ: Trước đây tôi chỉ biết đến gác chuông chùa Keo qua sách báo và hình ảnh trên truyền hình. Khi trực tiếp đến đây, nhìn ngắm quy mô đồ sộ nhưng rất thanh thoát của công trình, tôi mới thực sự ngỡ ngàng. Từng đường nét chạm khắc tinh xảo, từng góc mái cong vút uốn lượn và các khớp mộng gỗ bền bỉ cùng thời gian đều thể hiện sự tài hoa, trí tuệ tuyệt vời của người xưa.

Sự cân đối của gác chuông không chỉ thể hiện ở hình thức bên ngoài mà còn được tạo nên từ cách tổ chức mặt bằng và các tầng kiến trúc. Mặt bằng gác chuông gần vuông. Tầng một được lát gạch, ba mặt có lan can gỗ bao quanh và bố trí ba cửa ra vào. Lên các tầng trên, diện tích mặt bằng thu nhỏ dần, sàn được làm bằng gỗ. Đáng chú ý, mặt sàn tầng hai được ghép từ những tấm ván được bào nhẵn, liên kết phẳng, gợi liên tưởng đến những chiếc phản gỗ trong không gian nhà ở truyền thống. Hệ thống cầu thang và tay vịn bằng gỗ dẫn lên tầng hai, tầng ba cũng tạo nên nét gần gũi với kiến trúc nhà sàn truyền thống của người Việt.

Điều làm nên giá trị của gác chuông nằm ở bộ khung chịu lực và kỹ thuật lắp ghép của người thợ thủ công thế kỷ XVII. Bộ khung gồm 4 cột cái lớn làm theo dáng búp đòng đặt trên tảng đá thắt cổ bồng, cùng 12 cột quân vây quanh. Cột cái tầng một và tầng hai là cây gỗ liền vươn qua sàn tầng hai tới sàn tầng ba; tiếp đó thêm 4 cột cái đặt trên các đoạn xà ghép mộng từ cột cái bên dưới vươn tiếp lên đỡ vì nóc. Toàn bộ các cấu kiện được liên kết bằng mộng truyền thống mà không cần đến bất kỳ chiếc đinh kim loại nào.

Đặc biệt, để đỡ hệ thống mái đồ sộ ở tầng hai và tầng ba, các nghệ nhân xưa đã ứng dụng kết cấu “chồng đấu - tiếp rui” (dùng dàn đấu củng và rui bay nhô hẳn ra ngoài). Kết cấu này được thực hiện với số lượng lớn ở các tầng cao - kỹ thuật vô cùng phức tạp, rất hiếm gặp trong kiến trúc gỗ Việt Nam truyền thống, phản ánh trình độ và tay nghề của những nghệ nhân xưa.

Trong công trình, các pháp khí được bố trí theo từng tầng, tạo thêm giá trị cho không gian kiến trúc. Tầng một lưu giữ khánh đá, tầng hai có quả chuông đồng lớn được đúc năm 1698, tầng trên cùng có hai quả chuông đồng nhỏ đúc năm 1796. Những hiện vật này không chỉ có giá trị về mặt tín ngưỡng mà còn gắn với lịch sử tồn tại của gác chuông qua nhiều thế kỷ.

Gắn liền với không gian tâm linh là những nét văn hóa độc đáo được cộng đồng địa phương gìn giữ qua nhiều thế hệ. Chị Nguyễn Thị Duyên, hướng dẫn viên tại di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo cho biết: Tại gác chuông chùa Keo, một năm chuông chỉ được thỉnh 2 dịp: lần đầu vào thời khắc đón năm mới để cầu quốc thái dân an và lần thứ hai vào dịp đầu hội thu. Người được chọn thực hiện nghi thức thỉnh chuông phải có phẩm hạnh tốt, gia đình song toàn, con cháu đầy đủ và trong ba năm không có tang sự. Gác chuông cũng là công trình cao nhất trong chùa và trong vùng; suốt nhiều năm qua, không có ngôi nhà nào trong làng xây dựng cao hơn công trình này.

Gần bốn thế kỷ trôi qua, gác chuông chùa Keo vẫn lưu giữ nguyên vẹn những giá trị nổi bật về kiến trúc và kỹ thuật kết cấu gỗ. Từ cách tổ chức ba tầng mái, tỉ lệ các tầng, hệ thống cột, xà đến đấu củng, rui và rui bay, mỗi bộ phận đều góp phần tạo nên sự ổn định và diện mạo riêng của công trình. Sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật kết cấu và giá trị thẩm mỹ không chỉ khẳng định đỉnh cao nghệ thuật kiến trúc gỗ thời Hậu Lê, mà còn biến gác chuông trở thành niềm tự hào, một di sản văn hóa trường tồn cùng quê hương.

Nguồn: Baohungyen.vn

Tin liên quan